Giảm Trừ Chi Phí Y Tế Có Cần Bảng Kê Khi Tính Thuế TNCN?
Giảm trừ chi phí y tế là một trong những nội dung đáng chú ý khi xác định thu nhập tính thuế TNCN. Vậy người nộp thuế có bắt buộc phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh thì khoản chi này mới được giảm trừ hay không? Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định điều kiện, hồ sơ và chứng từ đối với khoản giảm trừ này như thế nào? Cùng tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.
Giảm trừ chi phí y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh mới được trừ khi tính thuế TNCN đúng không?
Căn cứ khoản 2 và 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
…
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo.
3. Các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
c) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
…
Theo đó, khoản chi cho y tế được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công trước khi tính thuế đối với cá nhân cư trú.
Mức giảm trừ đối với khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm và phải đáp ứng các điều kiện sau để được giảm trừ:
(1) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
(2) Khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế
(3) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế
(4) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, đối với khoản chi y tế muốn được trừ khi tính thuế TNCN phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh theo mẫu được sử dụng tại các cơ sở khám bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Các khoản giảm trừ chi phí y tế, giáo dục sẽ được tính giảm trừ theo tháng hay năm?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 11 Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025 quy định giảm trừ đối với khoản chi cho y tế, giáo dục như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
…
2. Khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế, người phụ thuộc của người nộp thuế được giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế theo mức do Chính phủ quy định.
Đồng thời, tại Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
…
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo.
…
5. Khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác phát sinh vào năm nào thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó, không được chuyển trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế tiếp theo. Trường hợp cá nhân đã thực hiện quyết toán thuế mà chưa có hóa đơn, chứng từ để xác định các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo quy định tại khoản 3 Điều này thì việc điều chỉnh nghĩa vụ thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo quy định trên, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục – đào tạo của bản thân và người phụ thuộc trước khi tính thuế thu nhập cá nhân.
Tại khoản 5 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định rõ các khoản chi cho y tế, giáo dục được giảm trừ theo năm phát sinh và không được chuyển trừ vào năm tiếp theo.
Do đó, các khoản giảm trừ chi phí y tế, giáo dục – đào tạo được xác định theo năm, không được phân bổ theo tháng. Khi quyết toán thuế TNCN, người lao động sẽ được trừ các khoản chi phí y tế, giáo dục – đào tạo trong năm.
Từ 01/7/2026, các khoản thu nhập được miễn thuế TNCN nhưng vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế?
Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 252/2026/NĐ-CP có quy định trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế như sau:
Các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác
Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác đối với từng loại thuế, khoản thu khác trong các trường hợp sau đây:
…
2. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cá nhân trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 và Điều 5 Luật Thuế thu nhập cá nhân, trừ các trường hợp được miễn thuế quy định tại các khoản 1, 2, 17 Điều 4, thu nhập của chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo quy định tại khoản 19 Điều 4 và các khoản 2, 3, 4 Điều 5 Luật Thuế thu nhập cá nhân.
…
Theo quy định trên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cá nhân trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập được miễn thuế, TRỪ một số trường hợp vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế, bao gồm:
(1) Các khoản miễn thuế quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 17 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 như sau:
– Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa các đối tượng có quan hệ thân nhân theo quy định.
– Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất tại Việt Nam.
– Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
(2) Thu nhập của chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo theo khoản 19 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
(3) Các trường hợp miễn thuế quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
– Thu nhập của nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao.
– Thu nhập của nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược.
– Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở nắm giữ từ 02 năm trở lên.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, các trường hợp nêu trên dù được miễn TNCN nhưng vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế.
Đối với các khoản thu nhập nêu trên, mặc dù được miễn thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc cá nhân trực tiếp khai thuế vẫn phải thực hiện nộp hồ sơ khai thuế.
